“Sở hữu gia tài đồ sộ với 105 kịch bản dài (tính tới năm 20013) với những đề tài phong phú: đề tài khai thác từ văn học dân gian, đề tài lịch sử danh nhân văn hoá, đề tài hiện đại kể cả từ trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945, đề tài cách mạng và lãnh tụ, các đề tài khác như dã sử, nước ngoài,….”

“…đóng góp kịch bản trong 33% Huy chương vàng, 25% tổng số Huy chương Bạc của các vở chèo được tặng giải thưởng từ 1955 đến 2005”

Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007.

Những con số đầy ấn tượng mà các trang báo dành để viết về Tiến sĩ Trần Đình Ngôn tưởng đã là nhiều mà vẫn chưa đủ. Là vì đối với bác, con số có giá trị lớn nhất, phải chăng là trên 50 năm đã từng gắn với với những câu thoại, lời hát, những tích xưa; chưa đủ, bởi một lẽ chẳng dễ để truyền đạt: nỗi niềm trăn trở, những đau đáu: phải gìn, phải giữ, phải cưu mang mà người nghệ sĩ ấy dành cho nghệ thuật chèo dân tộc.

Những “nhiều mà chưa đủ” ấy, được bộc lộ dần qua từng dòng chia sẻ về “cái nghiệp chèo” của tiến sĩ Trần Đình Ngôn.  Người nghệ sĩ vốn sinh ra tại Hải Dương, trưởng thành ở đất Cảng, nhưng lại nảy nở tài năng nghệ thuật tại xứ Hà thành, vẫn nhớ như in từng giây phút trong nghiệp chèo của mình, từ kịch bản chèo đầu tiên “chị Dậu”- chuyển thể từ tiểu thuyết “Tắt đèn” của nhà văn Ngô Tất Tố, với số nhuận bút “đủ mua một chiếc xe đạp Phượng Hoàng”, tới giờ. Cũng đã qua một nửa thế kỉ…. Một nửa thế kỉ, không chỉ giữ lửa cho biết bao sân khấu chèo từ thành phố tới những miền quê Việt, từ trong nước cho tới những cộng đồng văn hóa quốc tế; bác còn mang trong mình niềm nhiệt tâm “truyền lửa” không bao giờ mất: mong mỏi một lớp những người Việt “không già”, trước hết là hay  thích, về sau là yêu, là đam mê, rồi từ đó đau đáu một lòng “tiếp lửa”.

Vua chèo Trần Đình Ngôn

Vua chèo Trần Đình Ngôn

Một phần những ấp ủ không nhỏ của Tiến sĩ Trần Đình Ngôn được truyền tới người con trai hiện giờ là tác giả chèo uy tín: Trần Đình Văn. Nào khắp những chiếu chèo truyền thống nơi sân đình, với sân khấu ba mặt, với những tích chèo cổ Thị Mầu, Thị Kính gắn liền cùng biết bao đời nông dân Việt; cho đến những vở chèo hiện đại tại sân khấu chèo lớn nhất nhì chốn thành thị, cùng hình tượng vị lãnh tụ, người chiến sĩ, người công nhân trong thời kì đổi mới; hai cho con “hổ phụ”, “hổ tử”- người “thất thập cổ lại hy”, kẻ “trạc tứ tuần” cùng tung hoành “ngang dọc” để làm lớn mạnh hơn, phong phú hơn, sâu sắc hơn “chiếu chèo nước nhà”.

Đã ở tuổi xế chiều, nhưng “cái lòng” với chèo của bác chẳng khi nào ngơi nghỉ: vẫn những bản thảo tự viết rồi mới để con gái đánh lại, vì “muốn giữ lại bút tích”, vẫn những chuyến đi ngang dọc đất nước sang sảng những lời tâm huyết với người trong ngoài nghề, và hơn hết, là vẫn những lời tận tụy gửi gắm tới một thế hệ thanh niên Việt yêu văn hóa: “đi, thấy, và phải ngẫm nữa”.

“Đi, thấy, và phải ngẫm nữa”, phải chăng một lời kêu gọi, nhẹ bẫng đấy, nhưng níu giữ khôn nguôi với thế hệ trẻ Việt, những con người cũng sẵn trong mình mong mỏi “Đi nhiều hơn, sống sâu hơn”.

Tham khảo: Báo Mới: “Vua chèo”: Trần Đình Ngôn – nửa thế kỉ đắm đuối với chèo.


Leave a Reply