Thổ Hà xưa thuộc xã Thổ Hà, huyện An Việt, phủ Bắc Hà nay là xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Đây là một trong số những làng cổ của xứ Kinh Bắc với phong cảnh hữu tình, cây đa, bến nước, sân đình cùng những mái nhà rêu phong san sát nằm sâu trong các ngõ hẻm cổ kính duyên dáng bên bờ sông Cầu nên thơ.

Trong văn bia “Thủy tạo đình miếu bi” hiện còn lưu giữ ở đình làng, Thổ Hà được miêu tả có địa thế bán đảo, 3 mặt sông 1 mặt núi “phía Đông đẹp đẽ như rồng quay về chốn tổ, phía Tây hùng vĩ như dáng hổ ngồi chầu; phía Nam có núi Hồng Lĩnh và dòng song Nguyệt Đức; phía Bắc có ngọn núi Lát, hun đúc khí thiêng cho dải đất Thổ Hà. Phong cảnh đẹp sản sinh ra những bậc anh hùng, trong xã có nhiều người giỏi giang tuấn tú. Đường khoa cử có nhiều người làm quan văn võ, áo đỏ tía rực rõ chốn triều đình. Nghề bán buôn của cải có nhiều, giàu có ngang với thiên hạ. Nhà nào cũng có nghề gốm phát đạt. Hàng năm đều mở hội vui vẻ.”

 

Cổng làng Thổ Hà

Cổng làng Thổ Hà

Sự hưng thịnh của nghề gốm nơi đây đã giúp người dân quen với cuộc sống “gánh đất nung non nặn nồi” dựng nên một quần thể kiến trúc bề thế uy nghi gồm đình, chùa, văn chỉ và cổng làng. Trong đó không thể không nhắc tới đình và chùa Thổ Hà.

Theo những nghiên cứu gần đây, đình Việt Nam ra đời vào khoảng thế kỉ XVI nhưng phát triển đỉnh cao ở thế kỉ XVII. Xưa, đình được xem là ngôi nhà công cộng của làng trên các phương diện văn hóa, tín ngưỡng và hành chính. Vẻ đẹp của đình toát lên từ chính những hình khối kiến trúc, “tỷ lệ vàng” giữa các bộ phận và nghệ thuật chạm khắc trong trang trí nội thất.

Đình Thổ Hà thực hiện được đầy đủ chức năng của đình xưa đồng thời trở thành mẫu mực trong quan niệm xây dựng, điển hình cho nghệ thuật kiến trúc dân gian suốt mấy trăm năm qua, một trong những đỉnh cao của đình Việt thế kỉ XVII.

 

15369448962_192661d8f4_o

Mái đình lợp ngói mũi hài to bản, 4 góc với đầu đao cong vút

Được xây dựng năm Ất Sửu(1685), khánh thành năm 1687, đình Thổ Hà dựng theo kiểu chữ Công gồm tòa bái đường, 2 tòa tả vu, hữu vu và hậu cung. Tòa bái đường dài 27 m, rộng 16 m trên nền cao 0.5 m xung quanh bó đá tảng xanh, chia 3 cấp, mái đình lợp ngói mũi hài to bản, 4 góc với đầu đao cong vút. Góc mái gắn các tượng nghê và thú nhỏ bằng các sành mầu đỏ tía. Có tất cả 22 đầu bẩy lực lưỡng chạm nghe, rồng, mây, thú rất trau truốt. tòa bái đường chia 7 gian, 48 cột gỗ lim đỡ bộ khung mái chạm trổ tinh vi nhiều cảnh trí sinh động. Đặc biệt, có các bức chạm nhiều thiếu nữ mặc yếm, váy dài, tóc búi hay chít khăn với nét mặt rạng rỡ trong tư thế cưỡi phượng, rồng hay đang nhảy múa giữa các lớp mây bồng bềnh.

Nét đặc sắc nhất của đình Thổ Hà nằm ở sự pha trộn, giao thoa trong lối kiến trúc của nhiều triều đại hòa quyện với nghệ thuật điêu khắc bậc thầy nơi đây. Nếu hai bên Tả- Hữu Vu đem đến cho ta một cấu trúc đơn giản, không cầu kì trong cách trang trí thì Tiền Tế hấp dẫn người ta bởi cấu trúc bề thế với 3 gian chính, 2 gian phụ, các bộ phận kiến trúc khắc chạm bộ tứ linh và những hoa văn kỷ hà đậm chất phong cách kiến trúc thời nhà Nguyễn thế kỉ XIX. Ngoài ra, tòa Đại đình cũng có thêm hậu cung xây thành hình chữ “công” theo lối kiến trúc cung đình, cải tạo thế kỉ XVIII-XIX. Mặt ngoài các đầu đao ở đây được gắn đắp hình lá lật và rồng sinh động, tươi mát. Dọc bờ nóc, bờ giải đều gắn gạch rỗng trổ hoa chanh, hình rồng nổi gân cứng cáp và mềm mại.

Nét kiến trúc Việt thể hiện đậm nét trong cách bày trí bộ khung gỗ mà toàn bộ sức nặng dồn qua các cột đe chuyển tải đều trên mặt nền đình không cần móng và tường tạo nên một không gian thoáng rộng. Các án rồng, nghê cùng hoa 4 cánh to như hoa cúc được chạm khắc đầy tinh tế trên các cột giá chiêng kiên cố theo kiểu thức thời nhà Trần, nhà Mạc. Ngoài hiên là 22 đầu bẩy chạm cả hai mặt liền mảng với lá tàu thành các hình rồng, nghê, mây đặc sắc.

Bức Võng ở Đình làng Thổ Hà

Bức võng nổi bật ở Đình làng Thổ Hà

Bức võng xếp nổi bật với bức hoành chạm nổi kỷ thờ, mâm bồng, lẵng hoa trên dải diềm nền gấm mà phần chính làm thành 3 ô khám thờ sâu hút 8 lớp lồng nhau, xen giữa các khám là 4 đố chạm tứ quý và 6 cột khám chạm rồng, dưới cùng là gờ lá sòi với 2 lớp diềm vân hoa. Chiếc nhang án ở đây có hình thức chân quỳ dạ cá, óc diềm trên chạm rồng mây, chim ưng, tôm vui mắt lại có hình ảnh các cô gái đẹp như tiên tay trần búi tóc chit khăn cưỡi những con rồng chạm khắc theo đúng phong cách nhà Nguyễn.

Nghệ nhân xưa còn tỉ mẩn, dày công điêu khắc trên các xà, rường, đấu, cốn, ván gió( vốn để chịu lực hay che chắn) những tác phẩm tạo hình kì thú, mở ra cả một thế giới thần tiên bay bổng và sống động. Với các xà nhà thân gỗ to khỏe, kỹ thuật chạm bong kênh đã nẩy ra những hình thuộc nhiều lớp trong ngoài chen chúc, rồng lượn, phượng bay, người múa, thú chạy hay cô gái cưỡi rồng phượng tha thướt với nền đao mây vun vút khỏe chắc. Đoạn đỡ hoành nhỏ lại được chạm con nghê nghộ nghĩnh, hài hước. Trong khi các ván gió ở xà hạ tập trung nhiều con thú nối tiếp, xà trung chạm dây hoa, hình thú sống động, xà thượng được chạm rồng chầu mặt trời, xen kẽ là phượng và người múa, phô bày trước mắt người xem các tầng thế giới trần tục tới chốn bồng lai tiên cảnh .

Bên cạnh ngôi đình được coi là mẫu mực của nghệ thuật kiến trúc dân gian, chùa Thổ Hà nằm khiêm nhường với những nét đặc sắc riêng hiếm có.

Chùa Thổ Hà

Chùa Thổ Hà

Chùa Thổ Hà có tên chữ là Đoan Minh, xây dựng theo kiểu “nội công ngoại quốc”, quy mô to lớn bao gồm tam quan, gác chuông và tiền đường. Từ cổng tam quan bước vào, ngay trước toà tiền đường là khoảng sân rộng gần 1500m2. Nền tiền đường cao 0,5 mét có 3 bậc thềm được bó bằng đá tảng xanh. Tiền đường Thổ Hà rộng 7 gian, 5 gian chính, 2 gian phụ với 8 hàng cột lớn. Ba gian giữa nối với nhà tam bảo chạy sâu hút tạo thành mặt bằng hình chuôi vồ. Còn 2 gian phụ nối với 2 nhà cầu mỗi nhà dài 6 gian để tới toà trung đường cũng dài 7 gian là nơi đặt động Phật. Từ toà trung đường, bước qua một khoảng sân hẹp, hai bên sân là hai dãy nhà khách, nhà kho và khu phụ, tới toà hậu điện. Toà này rộng 5 gian cũng có kết cấu mặt bằng hình chuôi vồ với phần nhô ra ở phía sau là một Phật điện (gọi là tam bảo nhỏ). Ở phía bên phải, sát Phật điện được dành làm nơi thờ tổ. Toà hậu điện là kiến trúc cuối cùng có chức năng khép lại quần thể di tích.

Nét đặc sắc trong kiến trúc chùa Thổ Hà nằm ở quy mô khang trang, bề thế và nét chạm trổ, điêu khắc sống động, tài hoa nơi đây. Đến đây, người ta không khỏi choáng ngợp bởi hơn 40 pho tượng thờ hầu hết là tượng nhỏ (trừ pho A di đà ở tam bảo) nhưng gọt đẽo công phu hay những bát hương được trang trí đắp nổi và khắc chìm tinh tế trên nền gốm sành nâu truyền thống của Thổ Hà, càng không thể quên đôi rồng đá uốn khúc cuồn cuộn, hướng về cổng chùa ngự ở tiền đường. Đôi rồng này có niên đại thuộc về thời Mạc, nhưng nó không mang phong cách chung của đa số rồng Mạc là sự kế thừa và kết hợp hài hòa giữa rồng thời Trần và rồng thời Lê sơ. Đây là một trong những dạng ít gặp của rồng Mạc bởi nó “bước ra ngoài sự uyển chuyển truyền thống, ra ngoài tâm lý nông dân… và ít nhiều gắn với giai đoạn phát triển của kinh tế thương mại thế kỷ XVI”. Rồng đá chùa Thổ Hà có khối hình thon thả. Các mảng trang trí (râu, bờm và hình mây lửa) thưa thoáng, tinh tế. Đặc biệt phần thân được làm theo lối nhiều đoạn vuông góc khúc triết.

Tìm hiểu kiến trúc, điêu khắc chùa Thổ Hà, không thể không nói tới quần thể tượng tròn nằm trong khu động Phật. Đây là một công trình điêu khắc khá độc đáo, diễn tả quá trình nảy sinh, hình thành ý tưởng Phật giáo và thời kỳ tu luyện của Thích Ca Mâu Ni. Hầu hết tượng tròn trong động Phật đều được làm từ đất nung phủ sơn, có kích thước từ 15 đến 40cm (có khoảng gần 100 pho), được gia công tỉ mẩn, công phu mà rất đỗi dung dị. Cách bố cục và dùng màu cũng rất lạ. Từ xa trông lại, động Phật giống như một bức tranh thờ khổng lồ của các dân tộc miền núi phía Bắc.

Với nghệ thuật điêu khắc độc đáo, đình và chùa Thổ Hà đã góp phần tạo nên một Thổ Hà thanh bình, đậm sâu vẻ đẹp văn hóa cổ vùng Kinh Bắc, đượm chất hồn Việt thôn quê, nơi mà đâu đó vẫn còn phảng phất phong vị hữu tình của nét xưa cảnh cũ với cây đa, bến nước, sân đình, gợi nhắc trong lòng người nỗi khắc khoải khôn nguôi…

 

Minh Phương

* Trên đây là một số kiến thức về điêu khắc dân gian do Tôi xê dịch tổng hợp và chọn lọc. Tôi xê dịch rất vui nếu nhận được ý kiến đóng góp và thảo luận từ các bạn!

* Tài liệu tham khảo:

 1) Gốm Thổ Hà- Thổ Hà ceramics 17th -20th centuries

( Bảo tàng lịch sử quốc gia)

2) Văn hóa việt nam nhìn từ mỹ thuật

( PGS.TS. Chu Quang Trứ- NXB Mỹ thuật)

3) Về Niên Đại Chùa Thổ Hà

(Trương Minh Hằng)


Leave a Reply