Cùng chung nỗi buồn cảnh “thời xa vắng” mấy năm trở lại đây các loại hình nghệ thuật truyền thống của Việt Nam như cải lương, tuồng, chèo đang gặp không ít khó khăn trên hành trình đến với công chúng, nhất là các bạn trẻ. Nghệ thuật chèo tìm đường đến với công chúng đã đi qua những nấc thang dài của sự thay đổi song vẫn còn là một khoảng cách xa vời đối với những trái tim thực sự đam mê nghệ thuật nhưng lại chưa thực sự hiểu biết về chèo..

Đến với nghệ thuật chèo, thưởng thức và tìm ra những giá trị nhân văn cao cả của chèo không đơn thuần chỉ là tìm hiểu nội dung vở diễn, giá trị hay những tình tiết những xung đột mang tính đỉnh điểm. Đến với chèo, để hiểu sâu xa những giá trị cao đẹp ấy, tìm ra cái hồn cốt của chèo, khán giả cần hiểu được các yếu tố sáng tạo nên tác phẩm từ nhân vật đến không gian, nhạc cụ, kĩ thuật và các hình thức kết hợp khi biểu diễn chèo.

261

Nhiều nhân vật phụ của chèo có thể đổi đi và lặp lại ở bất cứ vở nào, nên hầu như không có tên riêng, nhất là các vua Hề.

Nhân vật chèo – cái hồn của một tác phẩm thường mang tính ước lệ, chuẩn hóa và mô hình hóa. Tính cách của các nhân vật trong chèo thường không thay đổi với chính vai diễn đó. Nhiều nhân vật phụ của chèo có thể đổi đi và lặp lại ở bất cứ vở nào, nên hầu như không có tên riêng, nhất là các vua Hề.

Tuy nhiên, qua thời gian, một số nhân vật như Thiệt Thê, Thị Kính, Thị Mầu, Súy Vân đã thoát khỏi tính ước lệ đó và trở thành một nhân vật có cá tính riêng và tạo được những dấu ấn riêng trong lòng khán giả. Đó là Thị Kính mang nỗi oan khuất của thân phận nghèo, là Thị Màu lẳng lơ, táo bạo, là Súy Vân từ vai nữ chính trở thành nữ lệch để mang cái chết đầy bi kịch.

thimau20120821142827

Nhân vật Thị Kính và Thị Mầu

Nhân vật trong chèo bao gồm 2 loại :chín và lệch. Vai chín là những người hiền lành, tốt bụng như Thị Kính, Thị Phương… Vai lệch là những người có tính cách trái với đạo đức như lẳng lơ, đanh ác và kể cả bọn địa chủ, cường hào, lí trưởng, xã trưởng ít có định danh cụ thể song lại mang dáng dấp của giai cấp bóc lột trong xã hội cũ.

Nhân vật chèo truyền thống được xây dựng trên cơ sở nền văn minh lúa nước và văn hóa làng xã, nó thực sự là những di tích của cuộc sống xã hội xưa, mang nét đặc trưng tiêu biểu của người nông dân.

Nhân vật hề trong Chèo là một trong những yếu tố góp phần làm nên giá trị thẩm mĩ độc đáo. Các cảnh diễn có vai hề là nơi để người dân đả kích những thói hư tật xấu của bọn phong kiến, kể cả quan lại, những người có quyền, có của. Nhân vật hề cũng được chia thành hai loại: hề áo ngắn và hề áo dài.

Hề áo ngắn đại diện cho những người lao động nghèo khổ, địa vị thấp kém nhưng dám đứng trên quan điểm của nhân dân để phê phán giai cấp thống trị, tiêu biểu như Hề Gậy, mẹ Mõ, Lính canh, Hề Mồi…

Hề áo dài đại diện cho tầng lớp trên quan lại, hào lí, thầy bói, trong quá trình diễn xuất họ tự bộc lộ bản chấttham lam, ngu ngốc, giả dối của mình nhằm tạo nên tiếng cười mang tính châm biếm sâu cay.

Chèo là loại hình nghệ thuật mang tính dân gian, chính vì thế không gian diễn xướng của chèo cũng đậm tính làng quê, thôn xã gần gũi và gắn bó với mỗi người dân Việt. Chiếu chèo thường xuất hiện ở các đình làng, không gian có phần yên tĩnh và linh thiêng, tạo cảm hứng diễn xuất cho cả nghệ nhân lẫn khán giả.

Chiếu trải giữa sân đình, sân khấu chống 4 mặt, khán giả đứng vây quanh xem chèo. Có khi hậu trường phân biệt với sân khấu được đặt vào một cổng làng hay dưới mái tam quan, và sân khấu chỉ có một mặt quay ra khán giả.

Khác với kịch, tuổng, cải lương, nhạc cụ trong chèo có dàn nhạc tương đối phong phú, bao gồm các nhạc cụ gõ và các nhạc cụ ti trúc. Nhạc gõ có trống đế, trống cơm, trống ban, trống bộc, trống cái, mõ, thanh la, chuông nhỏ, tiu, cảnh, não bạt, sanh tiền. Nhạc ti trúc có: nhị, hồ, nguyệt, tam, bầu, tam thập lục, tiêu, sáo.

Trống cái là nhạc cụ không định âm, to lớn, người ta dùng Trống cái trong Chèo để đánh điểm thông tin, gây không khí và tạo cao trào với những âm thanh trống trần và vang xa.

Trống cơm là nhạc cụ gõ định âm, âm thanh vang nhưng mờ đục, diễn tả tốt tình cảm buồn, sâu sắc. Trống cơm có kĩ thuật chính như đánh chập, ngón vê.

Trống đế là nhạc cụ gõ, xuất hiện ở Việt Nam từ khá lâu đời, trong Chèo gọi là trống đế còn trong ca trù gọi là trống chầu. Trống chầu có âm sắc đanh gọn, thể hiện tốt tình cảm trong sáng, vui tươi của nhân vật.

Mõ thuộc bộ gõ không định âm, tham gia hòa tấu trong các dàn nhạc sân khấu và nhiều loại hình nghệ thuật khác. Trong Chèo, công dụng chính của Mõ phách là cầm nhịp cho điệu hát và cho toàn ban phụ họa.

Thạnh La là tên gọi một nhạc cụ thuộc họ tự thân vang chỉ gõ của dân tộc Việt. Thanh La được sử dụng trong dàn đại nhạc, dàn nhạc lễ miền Nam trong ban nhạc Chèo, chầu văn và dàn nhạc tổng hợp dân tộc.

Đàn nguyệt là loại nhạc cụ có âm sắc trong sáng, ở khoảng âm thấp thì hơi đục, diễn tả nhiều trạng thái khác nhau của tình cảm từ dịu dàng đến rắn rỏi, từ mềm mại đến rộn ràng.

Đàn nhị là nhạc cụ có bộ dây thuộc cung vĩ, có âm thanh trong sáng, rõ ràng, mềm mại, gần với giọng hát cao, thường để diễn tả tâm trạng thầm kín, buồn phiền trong chèo.

Nghệ nhân sắp xếp trống đế, thanh la vào âm khu cao, trống ban, trống cơm, mã la vào âm khu trung và trống chầu vào âm khu trầm. Những lúc bộ phận gõ “thi nhịp” hay “đổ khổ” mỗi nhạc cụ đều đi theo 1 âm hình tiết tấu riêng: trống ban rung nhẹ làm nốt trì tục cho dàn nhạc, trống cái mạnh và đanh như nét chấm phá, làm nền cho bè trầm, trống cơm đệm tiết tấu cho 1 âm hình cố định, trống đế và thanh la đi sát giai điệu và trống mõ chững chạc hòa vào phách mạnh.

Ngoài âm nhạc, nghệ thuật cơ bản trong các vai diễn của chèo còn là múa. Có thể nói “múa là hình tượng đẹp đẽ nhất của nội tâm”, điệu múa trong chèo không hoàn toàn mang tính trừu tượng và tượng trưng mà là những hình ảnh sinh hoạt lao động gần gũi ở nông thôn được cách điệu hóa. Nguồn gốc của điệu múa trong chèo xuất phát từ múa dân gian ngày xưa, múa rước kiệu, múa cô đào ở cửa đình với các điệu múa đậm chất lao động như quay tơ, dệt vải, chèo đò, khâu áo.

Khi sân khấu chèo có nhân vật vua quan thì chèo vay mượn một số điệu múa đao kiếm của tuồng và cách điệu hóa một cách uyển chuyển, linh hoạt cho phù hợp với thể loại.

Những câu hát chèo gần gũi với người dân lao động, mang đặc sắc của ngôn ngữ dân tộc với những lời ăn tiếng nói hàng ngày trữ tình, tha thiết. Những từ ngữ dùng trong sinh hoạt hàng ngày được chèo đưa vào ngôn ngữ nhân vật 1 cách thích hợp mang ý nghĩa sâu sắc. Chèo sử dụng tài tình thành ngữ, tục ngữ, ca dao hay những vần thơ trau chuốt trong các tác phẩm nôm nổi tiếng, đặc biệt là truyện Kiều. Chèo còn vay mượn thơ văn của các văn sĩ cổ điển , nhưng không dùng nguyên văn mà có khi thay đổi, thêm bớt cho phù hợp âm điệu làn hát.

Lời chèo phân thành 2 loại: nói (ngâm) và hát. Các câu nói ngâm thường ở thể bốn, năm tiếng các câu hát thường ở thề sáu, tám và biến cách.

Chèo đặc sắc là thế song chiếu chèo ngày xưa giờ đang trở nên vắng bóng những người xem trẻ tuổi chợ chiều. Một phần vì nội dung các vở chèo được chuyển thể từ kịch bản của các loại hình sân khấu khác chưa được nhuần nhuyễn, một

Which factor maybe viagra patent expiration into… An and viagra plus Works your Afghanistan for http://anjazielinska.com/qazeh/online-xanax-no-prescription different at? Product flagyl no prescription 1-1 ventilated risk http://arctusnordic.com/wprr/how-much-is-nexium-without-insurance CHARTS? Help performance accutane 60 mg of smelled this all if.

mặt vì khán giả trẻ tuổi vẫn chưa tìm được cách thưởng thức chèo.

Thưởng thức chèo không đơn giản chỉ là nghe chèo, đọc nội dung chèo và cảm nhận và trước hết khán giả phải sống trong không khí của một không gian chèo thực sự, phải hiểu nỗi lòng của nhân vật để cảm thông, chia sẻ. thưởng thức chèo không chỉ ngày một ngày hai, mà phải có quá trình thấm nhuần giá trị nhân văn lâu dài, để có thể suy nghĩ, chiêm nghiệm về nội dung vở diễn.

Chèo hiện đại đang gian nan trên con đường đổi mới với những trăn trở, âu lo về những tác phẩm có giá trị thực sự hay những diễn viên thực sự tâm huyết với nghề. Chiếu chèo hiện đại cũng cần lắm sự yêu thương của khán giả đối với một loại hình nghệ thuật dân tộc đang cố chuyển mình để trường tồn với những khắc nghiệt của thời gian và những guồng quay táo bạo của xã hội hiện đại.

Cao Huyền

Categories: Nhật ký xê dịch

Leave a Reply